Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh

Đề bài: Mộ hay Chiều tối là bài thơ rất hay trong tập Nhật kí trong tù. Em hãy viết bài văn phân tích bài Mộ của Hồ Chí Minh.

Triết gia Quách Mạt Nhược đã ca ngợi: “Tập thơ Nhật kí trong tù có những bài thơ hay hơn cả thơ Đường, thơ Tống ngày xưa” và bài thơ Mộ (Chiều tối) là một bài thơ như thế. Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và đầy đọa vô cùng cực khổ, bài thơ Mộ là một trong những bài thơ tuyệt tác được Người sáng tác trong thời gian đầu mới bị bắt giam.

Loading...

Bài thơ thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, cả bài thơ gồm bốn câu với hai mươi tám chữ nhưng rất cô đọng và hàm xúc qua đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong những ngày tháng tù đày. Hai câu thơ đầu là cảm hứng của thi sĩ về bức tranh thiên nhiên núi rừng lúc chiều tối tại Quảng Tây – Trung Quốc. Hai câu thơ sau miêu tả cảnh sinh hoạt của những người dân lao động nơi núi rừng.

Mặc dù phải chịu cảnh chuyển lao suốt một ngày trời, bị đày đọa trong mưa nắng, đói khổ và tương lai phía trước lại là một nhà giam mới đầy những cực khổ nhưng tâm hồn thi sĩ vẫn giao hòa với thiên nhiên tức cảnh sinh tình:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

(“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không”)

Mở đầu bài thơ là hình ảnh cánh chim chiều đang bay chậm vì “mỏi” để về rừng tìm chốn ngủ sau mọt ngày kiếm ăn vất vả. Trước hết đây là câu thơ tả cảnh trời chiều, có lẽ phải rất cao rộng trong xanh lồng lộng thì ánh mắt của nhà thơ mới có thể nhìn rõ cánh chim như vậy. Với phép tu từ nhân hóa thi sĩ đã thổi hồn mình vào cánh chim chiều qua đó tả được cảnh bầu trời êm đềm và tư thế ung dung thanh thản ngẩng cao đầu vượt qua hoàn cảnh nghiệt ngã để hòa tâm hồn vào thiên nhiên. Không những vậy, nó còn cho thấy tình yêu thiên nhiên say đắm của người thi sĩ như có sự đồng cảm với cánh chim nhỏ bé và khát vọng tự do gửi theo cánh chim chiều bay lượn mênh mông trên bầu trời cùng ước nguyện được trở về mái ấm của mình là đất nước Việt Nam thân yêu nơi có đồng bào, đồng chí thân yêu. Khi cánh chim chiều bay về tổ ánh mắt nhà thơ tiếp tục dâng cao và thích thú ngắm áng mây lững lờ trôi nhẹ điểm tô cho bầu trời chiều thêm đẹp và sinh động. Hình ảnh này đậm chất cổ điển bởi là hình ảnh truyền thống trong thơ xưa. Lí Bạch có câu thơ: “Cô vân độc khứ nhàn” còn Thôi Hiệu thì có: “Ngàn năm mấy trắng bay chơi vơi”. Người xưa thường mượn hình ảnh “mây” để gửi quan niệm sống ẩn dật nhàn tản, nhưng ở bài thơ này có lẽ Bác Hồ chỉ dùng mây để tả cảnh. Trong nguyên tác người nhân hóa mây biết cô đơn chứng tỏ tâm hồn con người với thiên nhiên lại giao hòa, giao cảm. Một lần nữa lại tô đậm vẻ đẹp hiện đại của câu thơ thể hiện chất thép của người chiến sĩ cách mạng – luôn ung dung thanh thản, đồng thời tô đậm thêm tình yêu thiên nhiên say đắm và khát vọng tự do.

Nếu hai câu thơ đầu kín đáo thể hiện thời gian trôi theo cánh chim bay và chòm mây lơ lửng đi từ chiều đến tối, thì ở hai câu thơ cuối ánh mắt thi sĩ trở lại tầng thấp nơi rừng núi, ngỡ ngàng gặp bức tranh sinh hoạt của con người:

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”

(“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”)

Câu thơ giản dị như một thông báo, đồng thời lại dùng một từ địa phương “bao túc” nhưng vẫn ánh lên vẻ đẹp bởi từ thiếu nữ gợi sự trẻ trung, hồn nhiên, trong sáng và khỏe khoắn của người con gái lao động nơi xóm núi. Phần dịch thơ dịch là “cô em” chưa thực sự sát với nguyên tác của bài thơ. Phép điệp ngữ và câu thơ vắt dòng “ma bao túc – bao túc ma hoàn” làm nổi bật âm hưởng nhịp điệu câu thơ nhanh, mạnh, hài hòa đồng thời tô đậm sự trẻ trung khỏe khoắn, duyên dáng uyển chuyển trong công việc của người thiếu nữ, gợi người đọc liên tưởng đến thời gian nối tiếp trôi theo cánh chim chiều, áng mây trời và trôi theo vòng quay của cối xay. Khi xay hết ngô thì hình ảnh “lò than” bỗng “rực rỡ” tỏa sáng rực rỡ. Thế mà câu thơ dịch lại đưa từ “tối” vào câu thơ thứ ba, như là một sự thừa thãi vừa làm lộ ý thơ, vừa không thấy hết được tài năng thơ của tác giả. Trong thơ của Hồ Chí Minh hình tượng thơ luôn đi theo một quy luật từ tối đến sáng, từ lãnh lẽo đến ấm áp, từ cô đơn đến quây quần vui vẻ, qua đó làm nổi bật tư tưởng lạc quan cách mạng luôn vượt lên hoàn cảnh nghiệt ngã để hướng tới tương lai tươi sáng.

Hình ảnh “lò than hồng” làm sáng rực khuôn mặt người thiếu nữ xay ngô làm ấm áp trái tim người chiến sĩ, và có lẽ làm rạng rỡ muôn đời tâm hồn người đọc để mãi mãi cảm phục vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu trong hoàn cảnh chuyển lao vô cùng nghiệt ngã ấy vẫn mở rộng trái tim để chia sẻ nỗi vất vả với những kiếp người lao động và niềm vui của họ quay quần bên bữa ăn chiều bên lò than rực hồng ấm áp, sự ấm áp ấy có lẽ sẽ theo bước chân Người trên hành trình gian khổ làm vơi hết sự tối tăm lãnh lẽo cô đơn. Từ “hồng” ở đây có lẽ không lặp lại lần thứ hai trong thơ ca – một từ thôi mà đủ sức cân lại hai mươi bẩy từ còn lại, màu hồng đó như ẩn dụ để chỉ màu hồng của những chiến thắng cách mạng. Trong thơ xưa có rất nhiều bài thơ có cảnh chuyển lao như thế và người bị chuyển lao thường có tâm trạng cô đơn, tủi thân, chạnh lòng vậy mà trong cả bốn câu thơ không có một từ nào than thân mà chỉ thấy một bức tranh tả cảnh thiên nhiên thoáng đãng, êm ả và một bức tranh tả cảnh sinh hoạt bình dị mà ấm áp.

Bài thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên đồng thời là khát vọng tự do của Hồ Chí Minh, Bác phải có một tâm hồn chất thép và mênh mông chất tình, tâm hồn chiến sĩ hòa hợp vào tâm hồn thi sĩ, chất cổ điển hòa vào chất hiện đại thì mới có thể cho ra đời một thi phẩm tuyệt tác như thế.

Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh
Đánh giá bài viết
Loading...

Từ khóa tìm kiếm

DMCA.com Protection Status